Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Trợ giúp kỹ thuật)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Toan1Tap1Ketnoitrithucvoicuocsong.jpg Z7743273549276_ceb265b06c1d1b8ec11f4e89bda5154f.jpg Z7743195395274_7489856eff55926c244375433a21752b.jpg Z7743124180880_d619327ec23c195f2574686a2cfac6a2.jpg Z7743124177641_ab545c5167e10fdc7f51706f35085e7c.jpg Z7743120022684_af0a42535ab5122ab4ece24d50b0dd30.jpg Z7743124010883_b632ae73da468e8cad70e2bb3f16ab89.jpg Z7743100495062_66d2a953ebedd9616814b690a859d6a2.jpg Z7743120048020_3e41e6f694e2e9eb1b4d941f85ebf827.jpg Z7743120045163_7df88bfffa5a3d441c43e9cf98a7b203.jpg Z7743120042639_d93f506c2f417d7711baec61870d3e5f.jpg Z7743119989255_6a023f009f36b5ac4766d1306916282a.jpg Z7743119986131_943f92f96bb8e00bbaf99f21f98e5cb4.jpg Z7743119985084_e1c2db869c23de2b1c3e447e1bf3c970.jpg Z7743119983464_cb2e3b25579ac794bc359d76714bcc0f.jpg Z7743119934322_e81f3df6113c3fc4bce511fb4f5e9fa8.jpg Z7743104393418_66ad3bc02f78c5bbc5e6c60a3b4c3e38.jpg Z7743144310622_42746862cde1520c95520eb5440367cd.jpg Z7732603342630_9b639b82fceb81fe81423c15434bda42.jpg 8.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Lạng Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Hỏi đáp về Luật trẻ em 2016

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thơi
    Ngày gửi: 14h:02' 22-07-2024
    Dung lượng: 945.6 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    HỎI - ĐÁP VỀ
    LUẬT TRẺ EM NĂM 2016

    Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
    Chñ tÞch Héi ®ång
    pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
    Phã Chñ tÞch Héi ®ång
    PHẠM CHÍ THÀNH
    Thµnh viªn
    trÇn quèc d©n
    TS. NguyÔn §øC TµI
    TS. NGUYÔN AN TI£M
    NguyÔn Vò Thanh H¶o

    TRẦN MINH TUẤN

    HỎI - ĐÁP VỀ
    LUẬT TRẺ EM NĂM 2016

    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
    HÀ NỘI - 2016

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Việt Nam là một quốc gia có truyền thống xây dựng và bảo
    đảm thực hiện pháp luật về quyền trẻ em. Ngay từ bản Hiến
    pháp đầu tiên - năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013, quyền
    trẻ em tồn tại như một chế định hoàn chỉnh mang tính hiến
    định. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế
    giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
    vào ngày 20-2-1990 mà không bảo lưu bản công ước về quyền
    con người có nội dung toàn diện về quyền trẻ em này. Đồng
    thời, để thực hiện tốt hơn vấn đề này, ngày 12-8-1991, Quốc
    hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 lần đầu tiên đã ban hành Luật bảo
    vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, để phù hợp với sự
    phát triển của đất nước trong tình hình mới, ngày 15-6-2004, tại
    kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật bảo vệ,
    chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thay thế cho Luật bảo
    vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 quy định các quyền
    cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà
    nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
    Trải qua hơn 10 năm thi hành luật, trong bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước ta có nhiều thay đổi, có những vấn đề liên
    quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được nghiên
    cứu, sửa đổi, vì vậy, ngày 05-4-2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc
    hội khóa XIII đã ban hành Luật trẻ em năm 2016 thay thế Luật
    bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
    Với mục đích tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ
    bản của Luật trẻ em năm 2016 tới toàn thể Nhân dân, đặc biệt là

    5

    cán bộ và Nhân dân tại cơ sở xã, phường, thị trấn - nơi trẻ em
    sinh hoạt, học tập và được bảo đảm quyền trẻ em của mình,
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách
    Hỏi - đáp về Luật trẻ em năm 2016.
    Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
    Tháng 12 năm 2016
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

    6

    Chương I

    MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
    CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM
    Ở VIỆT NAM
    Câu hỏi số 1: Trẻ em theo pháp luật Việt Nam là những
    người ở độ tuổi nào?
    Trả lời:
    Theo Điều 1 Luật trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã
    hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua
    ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực từ ngày 01-6-2017 (sau đây
    gọi là Luật trẻ em năm 2016) thì trẻ em là người dưới 16 tuổi.
    Câu hỏi số 2: Quy định trẻ em là những người dưới 16
    tuổi thì có trái với Công ước của Liên hợp quốc về quyền
    trẻ em năm 1989 (Việt Nam gia nhập từ ngày 20-02-1990)
    hay không?
    Trả lời:
    Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm
    1989 quy định trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18
    tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ
    em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Như vậy, Công
    ước bỏ ngỏ khả năng để tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia,
    pháp luật trong nước có thể quy định tuổi thành niên sớm
    hơn 18 tuổi.

    7

    Do đó, pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới
    16 tuổi (sớm hơn 18 tuổi) là phù hợp với Công ước của Liên
    hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam đang là thành viên.
    Câu hỏi số 3: Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000,
    đến ngày 01-12-2016 em A được vợ chồng ông Trần Văn H
    và bà Lưu Thị Q làm thủ tục nhận làm con nuôi. Ông H và
    bà Q không có quan hệ ruột thịt với em A. Như vậy, việc
    xin con nuôi của ông H và bà Q có hợp pháp hay không?
    Trả lời:
    Theo Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010, chỉ trẻ em
    (người dưới 16 tuổi) mới được nhận làm con nuôi của người
    không phải là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột
    của họ. Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000, nên đến
    ngày 01-12-2016, em A vẫn chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, việc
    ông H và bà Q làm hồ sơ nhận em A làm con nuôi vào thời
    điểm ngày 01-12-2016 là hợp pháp.
    Câu hỏi số 4: Thế nào là bảo vệ trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 1 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bảo vệ trẻ
    em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ
    em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn
    và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn
    cảnh đặc biệt.
    Câu hỏi số 5: Thế nào là bảo đảm sự phát triển toàn
    diện của trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 2 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, phát triển
    toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất,
    trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
    Do đó, bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em là thực

    8

    hiện các biện pháp nhằm phát triển đồng thời cả về thể chất, trí
    tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
    Câu hỏi số 6: Thế nào là chăm sóc thay thế đối với trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, chăm sóc
    thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về
    chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em
    không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em
    bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang
    nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
    Câu hỏi số 7: Cháu Hoàng Mỹ B, 10 tuổi, sinh sống cùng
    cha, mẹ tại một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam. Trong
    một trận sạt lở đất do thiên tai, ngôi nhà gia đình cháu bị vùi
    lấp, cả cha và mẹ của cháu bị chết, bản thân cháu B may
    mắn được cứu sống. Gia đình người em gái ruột của mẹ cháu
    B (dì ruột cháu B) muốn nhận cháu B về nuôi dưỡng, như
    vậy có được gọi là người chăm sóc thay thế hay không?
    Trả lời:
    Khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em
    không còn cha, mẹ thì có thể được tổ chức, gia đình, cá nhân
    nhận về chăm sóc và trường hợp như vậy được gọi là chăm
    sóc thay thế. Các gia đình, cá nhân chăm sóc thay thế có thể
    là bất kỳ ai, không kể có quan hệ gia đình, huyết thống với
    trẻ em đó hay không. Do đó, gia đình dì ruột của cháu
    Hoàng Mỹ B nhận chăm sóc cháu khi cha mẹ cháu Hoàng
    Mỹ B đã chết cũng sẽ được coi là việc chăm sóc thay thế.
    Câu hỏi số 8: Những ai được coi là người chăm sóc trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 4 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, người chăm
    sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em,

    9

    bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc
    thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ
    của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
    Câu hỏi số 9: Những ai được coi là người giám hộ hay
    người cấp dưỡng trẻ em?
    Trả lời:
    1. Về người giám hộ trẻ em
    Theo Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005, thì giám hộ là
    việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ)
    được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc
    chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa
    thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi
    chung là người được giám hộ).
    Người được giám hộ là trẻ em bao gồm người chưa
    thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ
    hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
    năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha,
    mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
    người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu. Riêng
    người chưa đủ mười lăm tuổi thuộc vào các trường hợp này
    bắt buộc phải có người giám hộ.
    Bên cạnh đó, theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, đối
    với cá nhân phải có đủ các điều kiện sau đây mới có thể làm
    người giám hộ:
    - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
    - Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy
    cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được
    xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức
    khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
    - Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
    Tuy nhiên, các quy định nêu trên về giám hộ sẽ hết hiệu
    lực vào ngày 01-01-2017 và được thay thế bằng khoản 1

    10

    Điều 46 và Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó, giám
    hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy
    ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định để thực hiện
    việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
    chưa thành niên (trẻ em). Người giám hộ cho trẻ em có thể
    là cá nhân hoặc pháp nhân.
    Trường hợp người giám hộ là cá nhân, thì phải đáp ứng
    điều kiện sau:
    - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
    - Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để
    thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;
    - Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
    sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một
    trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
    nhân phẩm, tài sản của người khác;
    - Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền
    đối với con chưa thành niên.
    Trong trường hợp người giám hộ trẻ em là pháp nhân,
    Bộ luật dân sự năm 2015 quy định phải có các điều kiện sau:
    - Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ;
    Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của
    người giám hộ.
    2. Về người cấp dưỡng trẻ em
    Theo Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,
    nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con;
    giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và
    cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Bên cạnh
    đó, điểm a khoản 2 Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2005 quy
    định người gây thiệt hại đến tính mạng của người khác thì
    phải cấp dưỡng cho người chưa thành niên hoặc người đã
    thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra
    được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ
    trường hợp người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia

    11

    lao động và có thu nhập để nuôi sống bản thân (từ ngày 0101-2017, nội dung này sẽ áp dụng theo quy định tại khoản 2
    Điều 593Bộ luật dân sự năm 2015).
    Như vậy, người cấp dưỡng của trẻ em có thể là cha, mẹ;
    anh, chị; ông, bà nội, ông bà ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột
    của trẻ em cũng như người gây thiệt hại đến tính mạng của
    người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em.
    Câu hỏi số 10: Những ai được coi là người giám hộ
    đương nhiên của trẻ em?
    Trả lời:
    Theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, người giám hộ
    đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả
    cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ
    đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành
    vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha,
    mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành
    niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
    - Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thỏa thuận
    khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành
    niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người
    giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
    - Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh
    ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông
    nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có
    ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm
    người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
    Tuy nhiên, từ ngày 01-01-2017, quy định nêu trên được
    thay thế bởi Điều 47 và Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015,
    theo đó: trẻ em không còn cha, mẹ hoặc không xác định
    được cha, mẹ; trẻ em có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất
    năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong
    nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực

    12

    hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế
    quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm
    sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ. Người giám
    hộ đương nhiên của trẻ em trong trường hợp này gồm:
    - Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người
    giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm
    người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người
    giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột
    khác làm người giám hộ;
    - Trường hợp không có anh chị ruột hoặc anh chị ruột
    không đủ điều kiện làm người giám hộ thì người giám hộ
    đương nhiên là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người
    giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một
    số người trong số họ làm người giám hộ đương nhiên;
    - Trường hợp không có (không còn) anh chị ruột, ông
    nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc người này không đủ
    điều kiện là người giám hộ thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
    cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ đương nhiên.
    Câu hỏi số 11: Hành vi nào bị coi là xâm hại trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại trẻ
    em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh
    dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc
    lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các
    hình thức gây tổn hại khác.
    Câu hỏi số 12: Các hình thức gây tổn hại khác cho trẻ
    em gồm những loại hành vi nào?
    Trả lời:
    Mặc dù Luật trẻ em năm 2016 không quy định chi tiết
    những hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em, tuy nhiên, theo
    quy định của các văn bản pháp luật liên quan như: Bộ luật hình

    13

    sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 20091, Luật hôn nhân và gia
    đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan khác thì các
    hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em có thể gồm đánh tráo trẻ
    em, bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá
    nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường
    độc hại, nguy hiểm; gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm
    nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, làm nhục, cách ly,
    sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em; dùng các
    biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau
    đớn về thể xác và tinh thần; thường xuyên đe dọa trẻ em bằng
    các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, gây
    tổn thương về tinh thần, v.v..
    Câu hỏi số 13: Hành vi nào bị coi là bạo lực đối với trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 6 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bạo lực trẻ
    em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân
    thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô
    lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể
    chất, tinh thần của trẻ em.
    Câu hỏi số 14: Anh Hoàng Trọng K do lo lắng con mình
    là cháu Hoàng Trọng G ham chơi, không chịu học hành nên
    thường xuyên cấm cháu G đi chơi với các bạn cùng lứa tuổi
    và chửi, mắng thậm tệ (mạt sát không tiếc lời) mỗi lần cháu
    Q chốn đi chơi với bạn bè. Vậy, việc làm của anh K có bị coi
    là có hành vi bạo lực đối với trẻ em hay không?
    Trả lời:
    Hành vi thường xuyên cấm cháu Hoàng Trọng Q chơi

    _______________
    1. Được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015 hiện đang lùi hiệu
    lực thi hành theo Nghị định số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của
    Quốc hội khóa XIII.

    14

    với bạn bè có thể được coi là hình thức “cô lập” trẻ em; hơn
    nữa, việc anh K chửi mắng thậm tệ cháu Q cũng được coi là
    hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cháu Q.
    Do đó, đối chiếu với quy định của khoản 6 Điều 4 Luật trẻ
    em năm 2016 thì anh K đang có hành vi bạo lực với trẻ em.
    Đặc biệt, nếu hành vi như trên của anh K là thường
    xuyên, kéo dài, gây cho em Q đau đớn về tinh thần thì có thể
    bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 151 Bộ luật hình
    sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (được thay thế bởi
    Điều 185 Bộ luật hình sự năm 2015).
    Câu hỏi số 15: Hành vi nào bị coi là bóc lột trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 7 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bóc lột
    trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của
    pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm
    khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục
    đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ
    em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ
    em để trục lợi.
    Câu hỏi số 16: Hành vi sử dụng lao động trẻ em làm
    những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với
    các chất độc hại có phạm tội theo quy định của pháp luật
    hay không?
    Trả lời:
    Việc sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc,
    nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo Danh mục
    mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
    xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
    sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều
    228 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
    (được thay thế bởi Điều 296 Bộ luật hình sự năm 2015).

    15

    Câu hỏi số 17: Hành vi nào bị coi là xâm hại tình dục trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại
    tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép
    buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên
    quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu,
    dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm,
    khiêu dâm dưới mọi hình thức.
    Các hành vi xâm hại tình dục, tùy theo mức độ có thể bị xử
    lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu
    trách nhiệm hình sự (xem thêm Luật xử lý vi phạm hành chính
    năm 2012 và Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
    2009 (được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015)).
    Câu hỏi số 18: Hành vi nào bị coi là bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 9 Điều 4 của Luật trẻ em năm 2016, bỏ rơi, bỏ
    mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em
    không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách
    nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
    Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (mục 1 Chương V)
    quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa
    thành niên của mình vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha
    mẹ (kể cả cha dượng, mẹ kế), người giám hộ.
    Câu hỏi số 19: Anh Lâm H với chị Nguyễn Thị M ly
    hôn năm 2013, theo bản án của Tòa án thì chị M nuôi cháu
    N, 12 tuổi (ở thời điểm ly hôn) là con chung của anh H và
    chị M. Hằng tháng anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
    N là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tuy nhiên, hai năm
    nay, anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
    N dẫn đến cuộc sống mẹ con cháu N rất khó khăn, cháu N
    phải bỏ học. Do chị M có đơn gửi chính quyền về việc này,

    16

    nên chính quyền đã xử phạt hành chính anh H một lần,
    nhưng anh H vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ cấp
    dưỡng. Vậy, trong trường hợp này anh H có bị xử lý theo
    quy định pháp luật về hình sự hay không?
    Trả lời:
    Theo Điều 152 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ
    sung năm 2009 (được thay thế bởi Điều 186 Bộ luật hình sự
    năm 2015), người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả
    năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà
    mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà
    từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả
    nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
    hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị xử lý về tội từ chối
    hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
    Câu hỏi số 20: Thế nào là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt?
    Trả lời:
    Khoản 10 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 định nghĩa trẻ
    em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực
    hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được
    chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can
    thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an
    toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.
    Bên cạnh đó, Điều 10 Luật trẻ em năm 2016 làm rõ về
    các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm:
    a) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ;
    b) Trẻ em bị bỏ rơi;
    c) Trẻ em không nơi nương tựa;
    d) Trẻ em khuyết tật;
    đ) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
    e) Trẻ em vi phạm pháp luật;
    g) Trẻ em nghiện ma túy;

    17

    h) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ
    cập giáo dục trung học cơ sở;
    i) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh
    thần do bị bạo lực;
    k) Trẻ em bị bóc lột;
    l) Trẻ em bị xâm hại tình dục;
    m) Trẻ em bị mua bán;
    n) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị
    dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo;
    o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định
    được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.
    Câu hỏi số 21: Nhà nước có chính sách gì đối với trẻ em
    có hoàn cảnh đặc biệt?
    Trả lời:
    Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước có những
    chính sách, biện pháp để chăm sóc, hỗ trợ riêng. Các biện
    pháp này của Nhà nước được quy định trong nhiều văn bản
    pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau, như Luật trẻ em, Luật
    giáo dục, Luật trợ giúp pháp lý, v.v.; cùng với đó, Nhà nước
    thành lập hoặc cho phép thành lập các thiết chế, tổ chức có
    chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
    đặc biệt, như: Quỹ Bảo trợ trẻ em, các cơ sở nuôi dạy trẻ
    khuyết tật, trẻ mồ côi, v.v..
    Liên quan đến thực hiện các biện pháp chăm sóc trẻ em có
    hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
    định số 647/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 phê duyệt Đề án chăm
    sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
    nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ
    em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm
    họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020. Theo đó:
    1. Nội dung hoạt động của Đề án:
    a) Xây dựng chính sách, pháp luật về huy động sự tham

    18

    gia của cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
    hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
    b) Tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi
    có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
    mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn
    cảnh đặc biệt khó khăn và một số mô hình trợ giúp khác;
    c) Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ
    sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ
    em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; xây dựng mô hình ngôi
    nhà tạm lánh để tiếp nhận, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi
    thiên tai, thảm họa tại một số địa phương;
    d) Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin bảo trợ
    xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
    2. Các giải pháp của Đề án:
    a) Truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của
    cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có hoàn
    cảnh đặc biệt khó khăn;
    b) Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực
    hiện chính sách, pháp luật chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
    hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
    c) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực
    phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và chăm sóc trẻ em có
    hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
    d) Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước
    ngoài trong việc hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn lực
    để chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
    cộng đồng.
    3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc
    thực hiện Đề án:
    a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp
    với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
    phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai Đề án trên phạm
    vi cả nước; điều phối các hoạt động của Đề án; chủ trì tổ chức

    19

    thực hiện các nội dung, giải pháp đã được phân công trong Đề
    án này theo quy định hiện hành; hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp
    tình hình thực hiện Đề án và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính
    phủ; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án;
    b) Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế trong việc
    trợ giúp khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
    biệt khó khăn;
    c) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ,
    ngành liên quan triển khai chương trình giáo dục hòa nhập
    cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; chỉ đạo, hướng
    dẫn các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện miễn, giảm các
    khoản đóng góp để xây dựng cơ sở vật chất cho trẻ em có
    hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
    d) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và
    Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, căn cứ khả
    năng ngân sách nhà nước hằng năm, bố trí ngân sách để thực
    hiện Đề án, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng kinh
    phí thực hiện Đề án theo quy định của Luật ngân sách nhà
    nước và các quy định pháp luật khác liên quan;
    đ) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Lao
    động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành, địa phương
    có liên quan vận động các nguồn viện trợ nước ngoài cho
    công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
    dựa vào cộng đồng;
    e) Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với
    các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch truyền thông về
    chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
    cộng đồng; chỉ đạo các cơ quan thông tin và truyền thông
    trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chăm sóc trẻ
    em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
    g) Các Bộ, ngành liên quan khác, theo chức năng, nhiệm
    vụ được giao, có trách nhiệm triển khai thực hiện Đề án;
    nghiên cứu, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình

    20

    cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về
    phát triển công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
    khó khăn dựa vào cộng đồng;
    h) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
    ương chịu trách nhiệm:
    - Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc trẻ em
    có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
    - Chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung, giải pháp
    của Đề án trên địa bàn tỉnh, thành phố;
    - Bố trí ngân sách thực hiện Đề án theo quy định của
    pháp luật về ngân sách nhà nước;
    i) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
    Nam và các tổ chức thành viên tham gia tuyên truyền, phổ
    biến, giáo dục chính sách, pháp luật, kiểm tra, giám sát việc
    thực hiện chính sách, pháp luật về chăm sóc trẻ em có hoàn
    cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng; huy động đoàn
    viên, hội viên của tổ chức mình tham gia công tác chăm sóc
    trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng.
    Câu hỏi số 22: Thế nào là giám sát việc thực hiện quyền
    trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 11 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, giám sát
    việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của
    trẻ em là việc xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan,
    tổ chức, cá nhân liên quan về trách nhiệm bảo đảm thực hiện
    quyền trẻ em và giải quyết các ý kiến, kiến nghị của trẻ em,
    bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
    Câu hỏi số 23: Cơ quan nào có nhiệm vụ giám sát việc
    thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
    Trả lời:
    Theo khoản 1 Điều 77 Luật trẻ em năm 2016, Trung

    21

    ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức
    giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện
    vọng của trẻ em.
    Câu hỏi số 24: Diễn đàn trẻ em là gì và việc tổ chức
    Diễn đàn trẻ em được quy định như thế nào?
    Trả lời:
    Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH ngày 24-12-2014 của Bộ Lao động – Thương
    binh và Xã hội thì Diễn đàn trẻ em là hoạt động để đại diện
    của trẻ em nói lên ý kiến, nguyện vọng của trẻ em hoặc để
    các cơ quan, tổ chức lấy ý kiến của trẻ em về những vấn đề
    có liên quan đến trẻ em.
    Việc tổ chức Diễn đàn trẻ em được thực hiện ở cấp trung
    ương, cấp tỉnh và cấp huyện, theo đó việc tổ chức Diễn đàn
    trẻ em như sau:
    1. Xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em (Điều 4)
    Việc xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em cần căn
    cứ vào tình hình thực tiễn đất nước, địa phương; tập trung
    vào những vấn đề xã hội có liên quan đến trẻ em mà cộng
    đồng xã hội quan tâm hoặc luật pháp, chính sách liên quan
    tới trẻ em đã và sắp ban hành. Chủ đề cần ngắn gọn, dễ hiểu,
    chứa đựng thông điệp thúc đẩy hành động tích cực vì trẻ em.
    2. Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em (Điều 5)
    Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em phải phù
    hợp với nội dung hoạt động Diễn đàn, không ảnh hưởng tới
    sức khỏe và chương trình học tập của trẻ em trong nhà
    trường.
    3. Địa điểm, điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
    (Điều 6)
    a) Địa điểm tổ chức Diễn đàn trẻ em phải an toàn, thân
    thiện với trẻ em và trong phạm vi đơn vị hành chính của cấp
    tổ chức Diễn đàn.

    22

    b) Điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
    - Phòng họp đáp ứng việc sắp xếp bàn ghế một cách linh
    hoạt để trẻ tham gia các hoạt động thảo luận nhóm, trò chơi,
    văn nghệ, đối thoại;
    - Bảo đảm thiết bị âm thanh, ánh sáng;
    - Băng rôn, thông điệp tuyên truyền, bảng tiêu đề về chủ
    đề Diễn đàn;
    - Văn phòng phẩm;
    - Bảo đảm điều kiện ăn, uống, nghỉ ngơi, vệ sinh, sơ
    cứu, vận chuyển cấp cứu, phòng chống cháy nổ.
    4. Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 7)
    Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em bao gồm trẻ em,
    người phụ trách trẻ em, tình nguyện viên và khách mời tham
    gia đối thoại.
    Trẻ em tham gia Diễn đàn bao gồm trẻ em có nguyện
    vọng tham gia, trẻ em được lựa chọn từ địa phương, cơ sở và
    trẻ em được bầu chọn thông qua việc tham gia Diễn đàn trẻ
    em các cấp.
    Người phụ trách trẻ em: mỗi người chịu trách nhiệm
    chăm sóc, hỗ trợ không quá năm trẻ em.
    Tỉ lệ tình nguyện viên tham gia Diễn đàn trẻ em so với
    trẻ em tham gia Diễn đàn không quá một phần mười.
    Khách mời phiên gặp mặt đối thoại bao gồm đại diện
    lãnh đạo cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia đối thoại.
    Số lượng khách mời không vượt quá một phần ba tổng số trẻ
    em tham gia Diễn đàn.
    5. Lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 8)
    a) Tiêu chí lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em:
    - Từ đủ 9 tuổi đến dưới 16 tuổi;
    - Tự nguyện đăng ký tham gia Diễn đàn (Mẫu phiếu
    đăng ký ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
    - Được đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp

    23

    (Mẫu phiếu ý kiến của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp
    pháp ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
    - Bảo đảm sức khỏe tham gia Diễn đàn.
    b) Cơ cấu trẻ em tham gia Diễn đàn phải bảo đảm đại
    diện cho vùng, miền, dân tộc, độ tuổi, giới tính, tôn giáo, trẻ
    em có hoàn cảnh đặc biệt trong phạm vi địa phương, cơ
    quan, đơn vị tổ chức.
    c) Quy trình chọn, cử đại diện trẻ em tham gia Diễn đàn
    trẻ em:
    - Thông báo công khai chủ đề, nội dung Diễn đàn; tiêu
    chí chọn, quy trình cử trẻ em tham gia Diễn đàn;
    - Thực hiện việc lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn từ
    địa phương, cơ sở hoặc từ các Diễn đàn trẻ em cấp dưới
    tham gia Diễn đàn trẻ em cấp trên;
    - Hình thức bầu chọn tại Diễn đàn là đề cử, biểu quyết
    hoặc bỏ phiếu.
    6. Hoạt động chuẩn bị Diễn đàn trẻ em (Điều 9)
    a) Chuẩn bị các văn bản, tài liệu:
    Cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt
    kế hoạch và thành lập Ban Tổ chức Diễn đàn; gửi công văn
    đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách
    nhiệm phối hợp tham gia tổ chức Diễn đàn; xây dựng nội
    quy, tài liệu hướng dẫn trẻ em, người phụ trách, tình nguyện
    viên, phóng viên tham gia Diễn đàn; xây dựng tài liệu truyền
    thông, giới thiệu về Diễn đàn.
    b) Trách nhiệm của trẻ em tham gia Diễn đàn:
    - Tham gia chuẩn bị các kiến nghị, đề xuất xây dựng nội
    dung và các thông điệp chính của Diễn đàn;
    - Chuẩn bị các tiết mục văn nghệ, trò chơi phù hợp với
    chủ đề, nội dung của Diễn đàn;
    - Chuẩn bị các sản phẩm truyền thông, sản phẩm triển
    lãm theo chủ đề, nội dung Diễn đàn (nếu có).

    24

    c) Trách nhiệm của Ban Tổ chức Diễn đàn, người phụ
    trách trẻ em và tình nguyện viên:
    - Cung cấp thông tin, tài liệu giúp trẻ em hiểu được chủ
    đề, nội dung và các yêu cầu chuẩn bị Diễn đàn;
    - Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, mong muốn của
    trẻ em để hỗ trợ kịp thời;
    - Hướng dẫn trẻ em các kỹ năng làm việc nhóm, thuyết
    trình, lắng nghe, đặt câu hỏi ...
     
    Gửi ý kiến