Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Lạng Sơn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Hỏi đáp về Luật trẻ em 2016

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 14h:02' 22-07-2024
Dung lượng: 945.6 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 14h:02' 22-07-2024
Dung lượng: 945.6 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
HỎI - ĐÁP VỀ
LUẬT TRẺ EM NĂM 2016
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
PHẠM CHÍ THÀNH
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
TRẦN MINH TUẤN
HỎI - ĐÁP VỀ
LUẬT TRẺ EM NĂM 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2016
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống xây dựng và bảo
đảm thực hiện pháp luật về quyền trẻ em. Ngay từ bản Hiến
pháp đầu tiên - năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013, quyền
trẻ em tồn tại như một chế định hoàn chỉnh mang tính hiến
định. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế
giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
vào ngày 20-2-1990 mà không bảo lưu bản công ước về quyền
con người có nội dung toàn diện về quyền trẻ em này. Đồng
thời, để thực hiện tốt hơn vấn đề này, ngày 12-8-1991, Quốc
hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 lần đầu tiên đã ban hành Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, để phù hợp với sự
phát triển của đất nước trong tình hình mới, ngày 15-6-2004, tại
kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thay thế cho Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 quy định các quyền
cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà
nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Trải qua hơn 10 năm thi hành luật, trong bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước ta có nhiều thay đổi, có những vấn đề liên
quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được nghiên
cứu, sửa đổi, vì vậy, ngày 05-4-2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc
hội khóa XIII đã ban hành Luật trẻ em năm 2016 thay thế Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Với mục đích tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ
bản của Luật trẻ em năm 2016 tới toàn thể Nhân dân, đặc biệt là
5
cán bộ và Nhân dân tại cơ sở xã, phường, thị trấn - nơi trẻ em
sinh hoạt, học tập và được bảo đảm quyền trẻ em của mình,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách
Hỏi - đáp về Luật trẻ em năm 2016.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 12 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Chương I
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM
Ở VIỆT NAM
Câu hỏi số 1: Trẻ em theo pháp luật Việt Nam là những
người ở độ tuổi nào?
Trả lời:
Theo Điều 1 Luật trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua
ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực từ ngày 01-6-2017 (sau đây
gọi là Luật trẻ em năm 2016) thì trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Câu hỏi số 2: Quy định trẻ em là những người dưới 16
tuổi thì có trái với Công ước của Liên hợp quốc về quyền
trẻ em năm 1989 (Việt Nam gia nhập từ ngày 20-02-1990)
hay không?
Trả lời:
Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm
1989 quy định trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18
tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ
em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Như vậy, Công
ước bỏ ngỏ khả năng để tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia,
pháp luật trong nước có thể quy định tuổi thành niên sớm
hơn 18 tuổi.
7
Do đó, pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới
16 tuổi (sớm hơn 18 tuổi) là phù hợp với Công ước của Liên
hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam đang là thành viên.
Câu hỏi số 3: Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000,
đến ngày 01-12-2016 em A được vợ chồng ông Trần Văn H
và bà Lưu Thị Q làm thủ tục nhận làm con nuôi. Ông H và
bà Q không có quan hệ ruột thịt với em A. Như vậy, việc
xin con nuôi của ông H và bà Q có hợp pháp hay không?
Trả lời:
Theo Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010, chỉ trẻ em
(người dưới 16 tuổi) mới được nhận làm con nuôi của người
không phải là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột
của họ. Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000, nên đến
ngày 01-12-2016, em A vẫn chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, việc
ông H và bà Q làm hồ sơ nhận em A làm con nuôi vào thời
điểm ngày 01-12-2016 là hợp pháp.
Câu hỏi số 4: Thế nào là bảo vệ trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bảo vệ trẻ
em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ
em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn
và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
Câu hỏi số 5: Thế nào là bảo đảm sự phát triển toàn
diện của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, phát triển
toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất,
trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
Do đó, bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em là thực
8
hiện các biện pháp nhằm phát triển đồng thời cả về thể chất, trí
tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
Câu hỏi số 6: Thế nào là chăm sóc thay thế đối với trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, chăm sóc
thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về
chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em
không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em
bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang
nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Câu hỏi số 7: Cháu Hoàng Mỹ B, 10 tuổi, sinh sống cùng
cha, mẹ tại một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam. Trong
một trận sạt lở đất do thiên tai, ngôi nhà gia đình cháu bị vùi
lấp, cả cha và mẹ của cháu bị chết, bản thân cháu B may
mắn được cứu sống. Gia đình người em gái ruột của mẹ cháu
B (dì ruột cháu B) muốn nhận cháu B về nuôi dưỡng, như
vậy có được gọi là người chăm sóc thay thế hay không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em
không còn cha, mẹ thì có thể được tổ chức, gia đình, cá nhân
nhận về chăm sóc và trường hợp như vậy được gọi là chăm
sóc thay thế. Các gia đình, cá nhân chăm sóc thay thế có thể
là bất kỳ ai, không kể có quan hệ gia đình, huyết thống với
trẻ em đó hay không. Do đó, gia đình dì ruột của cháu
Hoàng Mỹ B nhận chăm sóc cháu khi cha mẹ cháu Hoàng
Mỹ B đã chết cũng sẽ được coi là việc chăm sóc thay thế.
Câu hỏi số 8: Những ai được coi là người chăm sóc trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 4 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, người chăm
sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em,
9
bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc
thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ
của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Câu hỏi số 9: Những ai được coi là người giám hộ hay
người cấp dưỡng trẻ em?
Trả lời:
1. Về người giám hộ trẻ em
Theo Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005, thì giám hộ là
việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ)
được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc
chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi
chung là người được giám hộ).
Người được giám hộ là trẻ em bao gồm người chưa
thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ
hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha,
mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu. Riêng
người chưa đủ mười lăm tuổi thuộc vào các trường hợp này
bắt buộc phải có người giám hộ.
Bên cạnh đó, theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, đối
với cá nhân phải có đủ các điều kiện sau đây mới có thể làm
người giám hộ:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được
xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
Tuy nhiên, các quy định nêu trên về giám hộ sẽ hết hiệu
lực vào ngày 01-01-2017 và được thay thế bằng khoản 1
10
Điều 46 và Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó, giám
hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy
ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định để thực hiện
việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên (trẻ em). Người giám hộ cho trẻ em có thể
là cá nhân hoặc pháp nhân.
Trường hợp người giám hộ là cá nhân, thì phải đáp ứng
điều kiện sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;
- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một
trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản của người khác;
- Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền
đối với con chưa thành niên.
Trong trường hợp người giám hộ trẻ em là pháp nhân,
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định phải có các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ;
Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của
người giám hộ.
2. Về người cấp dưỡng trẻ em
Theo Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,
nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con;
giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và
cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Bên cạnh
đó, điểm a khoản 2 Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2005 quy
định người gây thiệt hại đến tính mạng của người khác thì
phải cấp dưỡng cho người chưa thành niên hoặc người đã
thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra
được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ
trường hợp người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia
11
lao động và có thu nhập để nuôi sống bản thân (từ ngày 0101-2017, nội dung này sẽ áp dụng theo quy định tại khoản 2
Điều 593Bộ luật dân sự năm 2015).
Như vậy, người cấp dưỡng của trẻ em có thể là cha, mẹ;
anh, chị; ông, bà nội, ông bà ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột
của trẻ em cũng như người gây thiệt hại đến tính mạng của
người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em.
Câu hỏi số 10: Những ai được coi là người giám hộ
đương nhiên của trẻ em?
Trả lời:
Theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, người giám hộ
đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả
cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha,
mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành
niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thỏa thuận
khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành
niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người
giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh
ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có
ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
Tuy nhiên, từ ngày 01-01-2017, quy định nêu trên được
thay thế bởi Điều 47 và Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015,
theo đó: trẻ em không còn cha, mẹ hoặc không xác định
được cha, mẹ; trẻ em có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất
năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực
12
hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế
quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm
sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ. Người giám
hộ đương nhiên của trẻ em trong trường hợp này gồm:
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người
giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người
giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột
khác làm người giám hộ;
- Trường hợp không có anh chị ruột hoặc anh chị ruột
không đủ điều kiện làm người giám hộ thì người giám hộ
đương nhiên là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người
giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một
số người trong số họ làm người giám hộ đương nhiên;
- Trường hợp không có (không còn) anh chị ruột, ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc người này không đủ
điều kiện là người giám hộ thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ đương nhiên.
Câu hỏi số 11: Hành vi nào bị coi là xâm hại trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại trẻ
em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh
dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc
lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các
hình thức gây tổn hại khác.
Câu hỏi số 12: Các hình thức gây tổn hại khác cho trẻ
em gồm những loại hành vi nào?
Trả lời:
Mặc dù Luật trẻ em năm 2016 không quy định chi tiết
những hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em, tuy nhiên, theo
quy định của các văn bản pháp luật liên quan như: Bộ luật hình
13
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 20091, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan khác thì các
hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em có thể gồm đánh tráo trẻ
em, bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá
nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường
độc hại, nguy hiểm; gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm
nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, làm nhục, cách ly,
sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em; dùng các
biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau
đớn về thể xác và tinh thần; thường xuyên đe dọa trẻ em bằng
các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, gây
tổn thương về tinh thần, v.v..
Câu hỏi số 13: Hành vi nào bị coi là bạo lực đối với trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 6 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bạo lực trẻ
em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân
thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô
lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể
chất, tinh thần của trẻ em.
Câu hỏi số 14: Anh Hoàng Trọng K do lo lắng con mình
là cháu Hoàng Trọng G ham chơi, không chịu học hành nên
thường xuyên cấm cháu G đi chơi với các bạn cùng lứa tuổi
và chửi, mắng thậm tệ (mạt sát không tiếc lời) mỗi lần cháu
Q chốn đi chơi với bạn bè. Vậy, việc làm của anh K có bị coi
là có hành vi bạo lực đối với trẻ em hay không?
Trả lời:
Hành vi thường xuyên cấm cháu Hoàng Trọng Q chơi
_______________
1. Được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015 hiện đang lùi hiệu
lực thi hành theo Nghị định số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của
Quốc hội khóa XIII.
14
với bạn bè có thể được coi là hình thức “cô lập” trẻ em; hơn
nữa, việc anh K chửi mắng thậm tệ cháu Q cũng được coi là
hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cháu Q.
Do đó, đối chiếu với quy định của khoản 6 Điều 4 Luật trẻ
em năm 2016 thì anh K đang có hành vi bạo lực với trẻ em.
Đặc biệt, nếu hành vi như trên của anh K là thường
xuyên, kéo dài, gây cho em Q đau đớn về tinh thần thì có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 151 Bộ luật hình
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (được thay thế bởi
Điều 185 Bộ luật hình sự năm 2015).
Câu hỏi số 15: Hành vi nào bị coi là bóc lột trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 7 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bóc lột
trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của
pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm
khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục
đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ
em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ
em để trục lợi.
Câu hỏi số 16: Hành vi sử dụng lao động trẻ em làm
những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với
các chất độc hại có phạm tội theo quy định của pháp luật
hay không?
Trả lời:
Việc sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo Danh mục
mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều
228 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
(được thay thế bởi Điều 296 Bộ luật hình sự năm 2015).
15
Câu hỏi số 17: Hành vi nào bị coi là xâm hại tình dục trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại
tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép
buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên
quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu,
dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm,
khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Các hành vi xâm hại tình dục, tùy theo mức độ có thể bị xử
lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự (xem thêm Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 và Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009 (được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015)).
Câu hỏi số 18: Hành vi nào bị coi là bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 9 Điều 4 của Luật trẻ em năm 2016, bỏ rơi, bỏ
mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách
nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (mục 1 Chương V)
quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa
thành niên của mình vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha
mẹ (kể cả cha dượng, mẹ kế), người giám hộ.
Câu hỏi số 19: Anh Lâm H với chị Nguyễn Thị M ly
hôn năm 2013, theo bản án của Tòa án thì chị M nuôi cháu
N, 12 tuổi (ở thời điểm ly hôn) là con chung của anh H và
chị M. Hằng tháng anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
N là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tuy nhiên, hai năm
nay, anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
N dẫn đến cuộc sống mẹ con cháu N rất khó khăn, cháu N
phải bỏ học. Do chị M có đơn gửi chính quyền về việc này,
16
nên chính quyền đã xử phạt hành chính anh H một lần,
nhưng anh H vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng. Vậy, trong trường hợp này anh H có bị xử lý theo
quy định pháp luật về hình sự hay không?
Trả lời:
Theo Điều 152 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ
sung năm 2009 (được thay thế bởi Điều 186 Bộ luật hình sự
năm 2015), người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả
năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà
mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà
từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị xử lý về tội từ chối
hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Câu hỏi số 20: Thế nào là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt?
Trả lời:
Khoản 10 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 định nghĩa trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực
hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được
chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can
thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an
toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.
Bên cạnh đó, Điều 10 Luật trẻ em năm 2016 làm rõ về
các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm:
a) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ;
b) Trẻ em bị bỏ rơi;
c) Trẻ em không nơi nương tựa;
d) Trẻ em khuyết tật;
đ) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
e) Trẻ em vi phạm pháp luật;
g) Trẻ em nghiện ma túy;
17
h) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ
cập giáo dục trung học cơ sở;
i) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh
thần do bị bạo lực;
k) Trẻ em bị bóc lột;
l) Trẻ em bị xâm hại tình dục;
m) Trẻ em bị mua bán;
n) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị
dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo;
o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định
được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.
Câu hỏi số 21: Nhà nước có chính sách gì đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt?
Trả lời:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước có những
chính sách, biện pháp để chăm sóc, hỗ trợ riêng. Các biện
pháp này của Nhà nước được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau, như Luật trẻ em, Luật
giáo dục, Luật trợ giúp pháp lý, v.v.; cùng với đó, Nhà nước
thành lập hoặc cho phép thành lập các thiết chế, tổ chức có
chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt, như: Quỹ Bảo trợ trẻ em, các cơ sở nuôi dạy trẻ
khuyết tật, trẻ mồ côi, v.v..
Liên quan đến thực hiện các biện pháp chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 647/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 phê duyệt Đề án chăm
sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ
em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm
họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020. Theo đó:
1. Nội dung hoạt động của Đề án:
a) Xây dựng chính sách, pháp luật về huy động sự tham
18
gia của cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
b) Tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi
có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn và một số mô hình trợ giúp khác;
c) Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ
sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; xây dựng mô hình ngôi
nhà tạm lánh để tiếp nhận, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi
thiên tai, thảm họa tại một số địa phương;
d) Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin bảo trợ
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
2. Các giải pháp của Đề án:
a) Truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của
cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn;
b) Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực
hiện chính sách, pháp luật chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
c) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực
phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
d) Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước
ngoài trong việc hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn lực
để chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
cộng đồng.
3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện Đề án:
a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai Đề án trên phạm
vi cả nước; điều phối các hoạt động của Đề án; chủ trì tổ chức
19
thực hiện các nội dung, giải pháp đã được phân công trong Đề
án này theo quy định hiện hành; hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp
tình hình thực hiện Đề án và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính
phủ; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án;
b) Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế trong việc
trợ giúp khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn;
c) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan triển khai chương trình giáo dục hòa nhập
cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; chỉ đạo, hướng
dẫn các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện miễn, giảm các
khoản đóng góp để xây dựng cơ sở vật chất cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
d) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, căn cứ khả
năng ngân sách nhà nước hằng năm, bố trí ngân sách để thực
hiện Đề án, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng kinh
phí thực hiện Đề án theo quy định của Luật ngân sách nhà
nước và các quy định pháp luật khác liên quan;
đ) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành, địa phương
có liên quan vận động các nguồn viện trợ nước ngoài cho
công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
dựa vào cộng đồng;
e) Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch truyền thông về
chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
cộng đồng; chỉ đạo các cơ quan thông tin và truyền thông
trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
g) Các Bộ, ngành liên quan khác, theo chức năng, nhiệm
vụ được giao, có trách nhiệm triển khai thực hiện Đề án;
nghiên cứu, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình
20
cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về
phát triển công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn dựa vào cộng đồng;
h) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm:
- Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
- Chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung, giải pháp
của Đề án trên địa bàn tỉnh, thành phố;
- Bố trí ngân sách thực hiện Đề án theo quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước;
i) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên tham gia tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục chính sách, pháp luật, kiểm tra, giám sát việc
thực hiện chính sách, pháp luật về chăm sóc trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng; huy động đoàn
viên, hội viên của tổ chức mình tham gia công tác chăm sóc
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng.
Câu hỏi số 22: Thế nào là giám sát việc thực hiện quyền
trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 11 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, giám sát
việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của
trẻ em là việc xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân liên quan về trách nhiệm bảo đảm thực hiện
quyền trẻ em và giải quyết các ý kiến, kiến nghị của trẻ em,
bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Câu hỏi số 23: Cơ quan nào có nhiệm vụ giám sát việc
thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 77 Luật trẻ em năm 2016, Trung
21
ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức
giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện
vọng của trẻ em.
Câu hỏi số 24: Diễn đàn trẻ em là gì và việc tổ chức
Diễn đàn trẻ em được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH ngày 24-12-2014 của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội thì Diễn đàn trẻ em là hoạt động để đại diện
của trẻ em nói lên ý kiến, nguyện vọng của trẻ em hoặc để
các cơ quan, tổ chức lấy ý kiến của trẻ em về những vấn đề
có liên quan đến trẻ em.
Việc tổ chức Diễn đàn trẻ em được thực hiện ở cấp trung
ương, cấp tỉnh và cấp huyện, theo đó việc tổ chức Diễn đàn
trẻ em như sau:
1. Xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em (Điều 4)
Việc xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em cần căn
cứ vào tình hình thực tiễn đất nước, địa phương; tập trung
vào những vấn đề xã hội có liên quan đến trẻ em mà cộng
đồng xã hội quan tâm hoặc luật pháp, chính sách liên quan
tới trẻ em đã và sắp ban hành. Chủ đề cần ngắn gọn, dễ hiểu,
chứa đựng thông điệp thúc đẩy hành động tích cực vì trẻ em.
2. Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em (Điều 5)
Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em phải phù
hợp với nội dung hoạt động Diễn đàn, không ảnh hưởng tới
sức khỏe và chương trình học tập của trẻ em trong nhà
trường.
3. Địa điểm, điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
(Điều 6)
a) Địa điểm tổ chức Diễn đàn trẻ em phải an toàn, thân
thiện với trẻ em và trong phạm vi đơn vị hành chính của cấp
tổ chức Diễn đàn.
22
b) Điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
- Phòng họp đáp ứng việc sắp xếp bàn ghế một cách linh
hoạt để trẻ tham gia các hoạt động thảo luận nhóm, trò chơi,
văn nghệ, đối thoại;
- Bảo đảm thiết bị âm thanh, ánh sáng;
- Băng rôn, thông điệp tuyên truyền, bảng tiêu đề về chủ
đề Diễn đàn;
- Văn phòng phẩm;
- Bảo đảm điều kiện ăn, uống, nghỉ ngơi, vệ sinh, sơ
cứu, vận chuyển cấp cứu, phòng chống cháy nổ.
4. Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 7)
Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em bao gồm trẻ em,
người phụ trách trẻ em, tình nguyện viên và khách mời tham
gia đối thoại.
Trẻ em tham gia Diễn đàn bao gồm trẻ em có nguyện
vọng tham gia, trẻ em được lựa chọn từ địa phương, cơ sở và
trẻ em được bầu chọn thông qua việc tham gia Diễn đàn trẻ
em các cấp.
Người phụ trách trẻ em: mỗi người chịu trách nhiệm
chăm sóc, hỗ trợ không quá năm trẻ em.
Tỉ lệ tình nguyện viên tham gia Diễn đàn trẻ em so với
trẻ em tham gia Diễn đàn không quá một phần mười.
Khách mời phiên gặp mặt đối thoại bao gồm đại diện
lãnh đạo cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia đối thoại.
Số lượng khách mời không vượt quá một phần ba tổng số trẻ
em tham gia Diễn đàn.
5. Lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 8)
a) Tiêu chí lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em:
- Từ đủ 9 tuổi đến dưới 16 tuổi;
- Tự nguyện đăng ký tham gia Diễn đàn (Mẫu phiếu
đăng ký ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
- Được đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp
23
(Mẫu phiếu ý kiến của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp
pháp ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
- Bảo đảm sức khỏe tham gia Diễn đàn.
b) Cơ cấu trẻ em tham gia Diễn đàn phải bảo đảm đại
diện cho vùng, miền, dân tộc, độ tuổi, giới tính, tôn giáo, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt trong phạm vi địa phương, cơ
quan, đơn vị tổ chức.
c) Quy trình chọn, cử đại diện trẻ em tham gia Diễn đàn
trẻ em:
- Thông báo công khai chủ đề, nội dung Diễn đàn; tiêu
chí chọn, quy trình cử trẻ em tham gia Diễn đàn;
- Thực hiện việc lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn từ
địa phương, cơ sở hoặc từ các Diễn đàn trẻ em cấp dưới
tham gia Diễn đàn trẻ em cấp trên;
- Hình thức bầu chọn tại Diễn đàn là đề cử, biểu quyết
hoặc bỏ phiếu.
6. Hoạt động chuẩn bị Diễn đàn trẻ em (Điều 9)
a) Chuẩn bị các văn bản, tài liệu:
Cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt
kế hoạch và thành lập Ban Tổ chức Diễn đàn; gửi công văn
đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách
nhiệm phối hợp tham gia tổ chức Diễn đàn; xây dựng nội
quy, tài liệu hướng dẫn trẻ em, người phụ trách, tình nguyện
viên, phóng viên tham gia Diễn đàn; xây dựng tài liệu truyền
thông, giới thiệu về Diễn đàn.
b) Trách nhiệm của trẻ em tham gia Diễn đàn:
- Tham gia chuẩn bị các kiến nghị, đề xuất xây dựng nội
dung và các thông điệp chính của Diễn đàn;
- Chuẩn bị các tiết mục văn nghệ, trò chơi phù hợp với
chủ đề, nội dung của Diễn đàn;
- Chuẩn bị các sản phẩm truyền thông, sản phẩm triển
lãm theo chủ đề, nội dung Diễn đàn (nếu có).
24
c) Trách nhiệm của Ban Tổ chức Diễn đàn, người phụ
trách trẻ em và tình nguyện viên:
- Cung cấp thông tin, tài liệu giúp trẻ em hiểu được chủ
đề, nội dung và các yêu cầu chuẩn bị Diễn đàn;
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, mong muốn của
trẻ em để hỗ trợ kịp thời;
- Hướng dẫn trẻ em các kỹ năng làm việc nhóm, thuyết
trình, lắng nghe, đặt câu hỏi ...
LUẬT TRẺ EM NĂM 2016
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
PHẠM CHÍ THÀNH
Thµnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TµI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o
TRẦN MINH TUẤN
HỎI - ĐÁP VỀ
LUẬT TRẺ EM NĂM 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
HÀ NỘI - 2016
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống xây dựng và bảo
đảm thực hiện pháp luật về quyền trẻ em. Ngay từ bản Hiến
pháp đầu tiên - năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013, quyền
trẻ em tồn tại như một chế định hoàn chỉnh mang tính hiến
định. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế
giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
vào ngày 20-2-1990 mà không bảo lưu bản công ước về quyền
con người có nội dung toàn diện về quyền trẻ em này. Đồng
thời, để thực hiện tốt hơn vấn đề này, ngày 12-8-1991, Quốc
hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 lần đầu tiên đã ban hành Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, để phù hợp với sự
phát triển của đất nước trong tình hình mới, ngày 15-6-2004, tại
kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thay thế cho Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 quy định các quyền
cơ bản, bổn phận của trẻ em; trách nhiệm của gia đình, Nhà
nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Trải qua hơn 10 năm thi hành luật, trong bối cảnh kinh tế xã hội của đất nước ta có nhiều thay đổi, có những vấn đề liên
quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được nghiên
cứu, sửa đổi, vì vậy, ngày 05-4-2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc
hội khóa XIII đã ban hành Luật trẻ em năm 2016 thay thế Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004.
Với mục đích tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ
bản của Luật trẻ em năm 2016 tới toàn thể Nhân dân, đặc biệt là
5
cán bộ và Nhân dân tại cơ sở xã, phường, thị trấn - nơi trẻ em
sinh hoạt, học tập và được bảo đảm quyền trẻ em của mình,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách
Hỏi - đáp về Luật trẻ em năm 2016.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 12 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Chương I
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRẺ EM
Ở VIỆT NAM
Câu hỏi số 1: Trẻ em theo pháp luật Việt Nam là những
người ở độ tuổi nào?
Trả lời:
Theo Điều 1 Luật trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua
ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực từ ngày 01-6-2017 (sau đây
gọi là Luật trẻ em năm 2016) thì trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Câu hỏi số 2: Quy định trẻ em là những người dưới 16
tuổi thì có trái với Công ước của Liên hợp quốc về quyền
trẻ em năm 1989 (Việt Nam gia nhập từ ngày 20-02-1990)
hay không?
Trả lời:
Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm
1989 quy định trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18
tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ
em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Như vậy, Công
ước bỏ ngỏ khả năng để tùy theo điều kiện của mỗi quốc gia,
pháp luật trong nước có thể quy định tuổi thành niên sớm
hơn 18 tuổi.
7
Do đó, pháp luật Việt Nam quy định trẻ em là người dưới
16 tuổi (sớm hơn 18 tuổi) là phù hợp với Công ước của Liên
hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam đang là thành viên.
Câu hỏi số 3: Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000,
đến ngày 01-12-2016 em A được vợ chồng ông Trần Văn H
và bà Lưu Thị Q làm thủ tục nhận làm con nuôi. Ông H và
bà Q không có quan hệ ruột thịt với em A. Như vậy, việc
xin con nuôi của ông H và bà Q có hợp pháp hay không?
Trả lời:
Theo Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010, chỉ trẻ em
(người dưới 16 tuổi) mới được nhận làm con nuôi của người
không phải là cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột
của họ. Em Nguyễn Văn A sinh ngày 29-12-2000, nên đến
ngày 01-12-2016, em A vẫn chưa đủ 16 tuổi. Vì vậy, việc
ông H và bà Q làm hồ sơ nhận em A làm con nuôi vào thời
điểm ngày 01-12-2016 là hợp pháp.
Câu hỏi số 4: Thế nào là bảo vệ trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bảo vệ trẻ
em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ
em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn
và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
Câu hỏi số 5: Thế nào là bảo đảm sự phát triển toàn
diện của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 2 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, phát triển
toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất,
trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
Do đó, bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em là thực
8
hiện các biện pháp nhằm phát triển đồng thời cả về thể chất, trí
tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.
Câu hỏi số 6: Thế nào là chăm sóc thay thế đối với trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, chăm sóc
thay thế là việc tổ chức, gia đình, cá nhân nhận trẻ em về
chăm sóc, nuôi dưỡng khi trẻ em không còn cha mẹ; trẻ em
không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; trẻ em
bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang
nhằm bảo đảm sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Câu hỏi số 7: Cháu Hoàng Mỹ B, 10 tuổi, sinh sống cùng
cha, mẹ tại một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam. Trong
một trận sạt lở đất do thiên tai, ngôi nhà gia đình cháu bị vùi
lấp, cả cha và mẹ của cháu bị chết, bản thân cháu B may
mắn được cứu sống. Gia đình người em gái ruột của mẹ cháu
B (dì ruột cháu B) muốn nhận cháu B về nuôi dưỡng, như
vậy có được gọi là người chăm sóc thay thế hay không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định trẻ em
không còn cha, mẹ thì có thể được tổ chức, gia đình, cá nhân
nhận về chăm sóc và trường hợp như vậy được gọi là chăm
sóc thay thế. Các gia đình, cá nhân chăm sóc thay thế có thể
là bất kỳ ai, không kể có quan hệ gia đình, huyết thống với
trẻ em đó hay không. Do đó, gia đình dì ruột của cháu
Hoàng Mỹ B nhận chăm sóc cháu khi cha mẹ cháu Hoàng
Mỹ B đã chết cũng sẽ được coi là việc chăm sóc thay thế.
Câu hỏi số 8: Những ai được coi là người chăm sóc trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 4 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, người chăm
sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em,
9
bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc
thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ
của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Câu hỏi số 9: Những ai được coi là người giám hộ hay
người cấp dưỡng trẻ em?
Trả lời:
1. Về người giám hộ trẻ em
Theo Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005, thì giám hộ là
việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ)
được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc
chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi
chung là người được giám hộ).
Người được giám hộ là trẻ em bao gồm người chưa
thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ
hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha,
mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục
người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu. Riêng
người chưa đủ mười lăm tuổi thuộc vào các trường hợp này
bắt buộc phải có người giám hộ.
Bên cạnh đó, theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, đối
với cá nhân phải có đủ các điều kiện sau đây mới có thể làm
người giám hộ:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được
xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
- Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
Tuy nhiên, các quy định nêu trên về giám hộ sẽ hết hiệu
lực vào ngày 01-01-2017 và được thay thế bằng khoản 1
10
Điều 46 và Điều 50 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó, giám
hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy
ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định để thực hiện
việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên (trẻ em). Người giám hộ cho trẻ em có thể
là cá nhân hoặc pháp nhân.
Trường hợp người giám hộ là cá nhân, thì phải đáp ứng
điều kiện sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;
- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình
sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một
trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, tài sản của người khác;
- Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền
đối với con chưa thành niên.
Trong trường hợp người giám hộ trẻ em là pháp nhân,
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định phải có các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ;
Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của
người giám hộ.
2. Về người cấp dưỡng trẻ em
Theo Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014,
nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con;
giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và
cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Bên cạnh
đó, điểm a khoản 2 Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2005 quy
định người gây thiệt hại đến tính mạng của người khác thì
phải cấp dưỡng cho người chưa thành niên hoặc người đã
thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra
được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ
trường hợp người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia
11
lao động và có thu nhập để nuôi sống bản thân (từ ngày 0101-2017, nội dung này sẽ áp dụng theo quy định tại khoản 2
Điều 593Bộ luật dân sự năm 2015).
Như vậy, người cấp dưỡng của trẻ em có thể là cha, mẹ;
anh, chị; ông, bà nội, ông bà ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột
của trẻ em cũng như người gây thiệt hại đến tính mạng của
người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em.
Câu hỏi số 10: Những ai được coi là người giám hộ
đương nhiên của trẻ em?
Trả lời:
Theo Điều 60 Bộ luật dân sự năm 2005, người giám hộ
đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả
cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ
đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha,
mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành
niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
- Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thỏa thuận
khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành
niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người
giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
- Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh
ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có
ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
Tuy nhiên, từ ngày 01-01-2017, quy định nêu trên được
thay thế bởi Điều 47 và Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015,
theo đó: trẻ em không còn cha, mẹ hoặc không xác định
được cha, mẹ; trẻ em có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất
năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực
12
hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế
quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm
sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ. Người giám
hộ đương nhiên của trẻ em trong trường hợp này gồm:
- Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người
giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm
người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người
giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột
khác làm người giám hộ;
- Trường hợp không có anh chị ruột hoặc anh chị ruột
không đủ điều kiện làm người giám hộ thì người giám hộ
đương nhiên là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người
giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một
số người trong số họ làm người giám hộ đương nhiên;
- Trường hợp không có (không còn) anh chị ruột, ông
nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc người này không đủ
điều kiện là người giám hộ thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột,
cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ đương nhiên.
Câu hỏi số 11: Hành vi nào bị coi là xâm hại trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại trẻ
em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh
dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc
lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các
hình thức gây tổn hại khác.
Câu hỏi số 12: Các hình thức gây tổn hại khác cho trẻ
em gồm những loại hành vi nào?
Trả lời:
Mặc dù Luật trẻ em năm 2016 không quy định chi tiết
những hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em, tuy nhiên, theo
quy định của các văn bản pháp luật liên quan như: Bộ luật hình
13
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 20091, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan khác thì các
hình thức gây tổn hại khác cho trẻ em có thể gồm đánh tráo trẻ
em, bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá
nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường
độc hại, nguy hiểm; gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm
nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, làm nhục, cách ly,
sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em; dùng các
biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau
đớn về thể xác và tinh thần; thường xuyên đe dọa trẻ em bằng
các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, gây
tổn thương về tinh thần, v.v..
Câu hỏi số 13: Hành vi nào bị coi là bạo lực đối với trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 6 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bạo lực trẻ
em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân
thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô
lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể
chất, tinh thần của trẻ em.
Câu hỏi số 14: Anh Hoàng Trọng K do lo lắng con mình
là cháu Hoàng Trọng G ham chơi, không chịu học hành nên
thường xuyên cấm cháu G đi chơi với các bạn cùng lứa tuổi
và chửi, mắng thậm tệ (mạt sát không tiếc lời) mỗi lần cháu
Q chốn đi chơi với bạn bè. Vậy, việc làm của anh K có bị coi
là có hành vi bạo lực đối với trẻ em hay không?
Trả lời:
Hành vi thường xuyên cấm cháu Hoàng Trọng Q chơi
_______________
1. Được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015 hiện đang lùi hiệu
lực thi hành theo Nghị định số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của
Quốc hội khóa XIII.
14
với bạn bè có thể được coi là hình thức “cô lập” trẻ em; hơn
nữa, việc anh K chửi mắng thậm tệ cháu Q cũng được coi là
hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cháu Q.
Do đó, đối chiếu với quy định của khoản 6 Điều 4 Luật trẻ
em năm 2016 thì anh K đang có hành vi bạo lực với trẻ em.
Đặc biệt, nếu hành vi như trên của anh K là thường
xuyên, kéo dài, gây cho em Q đau đớn về tinh thần thì có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 151 Bộ luật hình
sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (được thay thế bởi
Điều 185 Bộ luật hình sự năm 2015).
Câu hỏi số 15: Hành vi nào bị coi là bóc lột trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 7 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, bóc lột
trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của
pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm
khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục
đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ
em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ
em để trục lợi.
Câu hỏi số 16: Hành vi sử dụng lao động trẻ em làm
những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với
các chất độc hại có phạm tội theo quy định của pháp luật
hay không?
Trả lời:
Việc sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc,
nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo Danh mục
mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều
228 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
(được thay thế bởi Điều 296 Bộ luật hình sự năm 2015).
15
Câu hỏi số 17: Hành vi nào bị coi là xâm hại tình dục trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, xâm hại
tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép
buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên
quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu,
dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm,
khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Các hành vi xâm hại tình dục, tùy theo mức độ có thể bị xử
lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự (xem thêm Luật xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 và Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009 (được thay thế bởi Bộ luật hình sự năm 2015)).
Câu hỏi số 18: Hành vi nào bị coi là bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 9 Điều 4 của Luật trẻ em năm 2016, bỏ rơi, bỏ
mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách
nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (mục 1 Chương V)
quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa
thành niên của mình vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của cha
mẹ (kể cả cha dượng, mẹ kế), người giám hộ.
Câu hỏi số 19: Anh Lâm H với chị Nguyễn Thị M ly
hôn năm 2013, theo bản án của Tòa án thì chị M nuôi cháu
N, 12 tuổi (ở thời điểm ly hôn) là con chung của anh H và
chị M. Hằng tháng anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
N là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Tuy nhiên, hai năm
nay, anh H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
N dẫn đến cuộc sống mẹ con cháu N rất khó khăn, cháu N
phải bỏ học. Do chị M có đơn gửi chính quyền về việc này,
16
nên chính quyền đã xử phạt hành chính anh H một lần,
nhưng anh H vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng. Vậy, trong trường hợp này anh H có bị xử lý theo
quy định pháp luật về hình sự hay không?
Trả lời:
Theo Điều 152 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ
sung năm 2009 (được thay thế bởi Điều 186 Bộ luật hình sự
năm 2015), người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả
năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà
mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà
từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi này mà còn vi phạm thì có thể bị xử lý về tội từ chối
hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Câu hỏi số 20: Thế nào là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt?
Trả lời:
Khoản 10 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 định nghĩa trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em không đủ điều kiện thực
hiện được quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được
chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can
thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an
toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng.
Bên cạnh đó, Điều 10 Luật trẻ em năm 2016 làm rõ về
các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm:
a) Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ;
b) Trẻ em bị bỏ rơi;
c) Trẻ em không nơi nương tựa;
d) Trẻ em khuyết tật;
đ) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
e) Trẻ em vi phạm pháp luật;
g) Trẻ em nghiện ma túy;
17
h) Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ
cập giáo dục trung học cơ sở;
i) Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh
thần do bị bạo lực;
k) Trẻ em bị bóc lột;
l) Trẻ em bị xâm hại tình dục;
m) Trẻ em bị mua bán;
n) Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị
dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo;
o) Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định
được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.
Câu hỏi số 21: Nhà nước có chính sách gì đối với trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt?
Trả lời:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước có những
chính sách, biện pháp để chăm sóc, hỗ trợ riêng. Các biện
pháp này của Nhà nước được quy định trong nhiều văn bản
pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau, như Luật trẻ em, Luật
giáo dục, Luật trợ giúp pháp lý, v.v.; cùng với đó, Nhà nước
thành lập hoặc cho phép thành lập các thiết chế, tổ chức có
chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt, như: Quỹ Bảo trợ trẻ em, các cơ sở nuôi dạy trẻ
khuyết tật, trẻ mồ côi, v.v..
Liên quan đến thực hiện các biện pháp chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 647/QĐ-TTg ngày 26-4-2013 phê duyệt Đề án chăm
sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em
nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ
em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm
họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020. Theo đó:
1. Nội dung hoạt động của Đề án:
a) Xây dựng chính sách, pháp luật về huy động sự tham
18
gia của cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
b) Tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi
có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn và một số mô hình trợ giúp khác;
c) Nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ
sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; xây dựng mô hình ngôi
nhà tạm lánh để tiếp nhận, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi
thiên tai, thảm họa tại một số địa phương;
d) Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin bảo trợ
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
2. Các giải pháp của Đề án:
a) Truyền thông, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của
cộng đồng trong việc chăm sóc và trợ giúp trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn;
b) Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực
hiện chính sách, pháp luật chăm sóc và trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
c) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực
phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
d) Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước
ngoài trong việc hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn lực
để chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
cộng đồng.
3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện Đề án:
a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai Đề án trên phạm
vi cả nước; điều phối các hoạt động của Đề án; chủ trì tổ chức
19
thực hiện các nội dung, giải pháp đã được phân công trong Đề
án này theo quy định hiện hành; hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp
tình hình thực hiện Đề án và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính
phủ; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án;
b) Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế trong việc
trợ giúp khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn;
c) Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan triển khai chương trình giáo dục hòa nhập
cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; chỉ đạo, hướng
dẫn các cơ sở giáo dục trong việc thực hiện miễn, giảm các
khoản đóng góp để xây dựng cơ sở vật chất cho trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
d) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, căn cứ khả
năng ngân sách nhà nước hằng năm, bố trí ngân sách để thực
hiện Đề án, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng kinh
phí thực hiện Đề án theo quy định của Luật ngân sách nhà
nước và các quy định pháp luật khác liên quan;
đ) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành, địa phương
có liên quan vận động các nguồn viện trợ nước ngoài cho
công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
dựa vào cộng đồng;
e) Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với
các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch truyền thông về
chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào
cộng đồng; chỉ đạo các cơ quan thông tin và truyền thông
trong việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
g) Các Bộ, ngành liên quan khác, theo chức năng, nhiệm
vụ được giao, có trách nhiệm triển khai thực hiện Đề án;
nghiên cứu, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình
20
cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về
phát triển công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn dựa vào cộng đồng;
h) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương chịu trách nhiệm:
- Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng;
- Chỉ đạo, triển khai thực hiện các nội dung, giải pháp
của Đề án trên địa bàn tỉnh, thành phố;
- Bố trí ngân sách thực hiện Đề án theo quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước;
i) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên tham gia tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục chính sách, pháp luật, kiểm tra, giám sát việc
thực hiện chính sách, pháp luật về chăm sóc trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng; huy động đoàn
viên, hội viên của tổ chức mình tham gia công tác chăm sóc
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng.
Câu hỏi số 22: Thế nào là giám sát việc thực hiện quyền
trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 11 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016, giám sát
việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của
trẻ em là việc xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân liên quan về trách nhiệm bảo đảm thực hiện
quyền trẻ em và giải quyết các ý kiến, kiến nghị của trẻ em,
bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Câu hỏi số 23: Cơ quan nào có nhiệm vụ giám sát việc
thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 77 Luật trẻ em năm 2016, Trung
21
ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức
giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện
vọng của trẻ em.
Câu hỏi số 24: Diễn đàn trẻ em là gì và việc tổ chức
Diễn đàn trẻ em được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH ngày 24-12-2014 của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội thì Diễn đàn trẻ em là hoạt động để đại diện
của trẻ em nói lên ý kiến, nguyện vọng của trẻ em hoặc để
các cơ quan, tổ chức lấy ý kiến của trẻ em về những vấn đề
có liên quan đến trẻ em.
Việc tổ chức Diễn đàn trẻ em được thực hiện ở cấp trung
ương, cấp tỉnh và cấp huyện, theo đó việc tổ chức Diễn đàn
trẻ em như sau:
1. Xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em (Điều 4)
Việc xác định chủ đề, nội dung Diễn đàn trẻ em cần căn
cứ vào tình hình thực tiễn đất nước, địa phương; tập trung
vào những vấn đề xã hội có liên quan đến trẻ em mà cộng
đồng xã hội quan tâm hoặc luật pháp, chính sách liên quan
tới trẻ em đã và sắp ban hành. Chủ đề cần ngắn gọn, dễ hiểu,
chứa đựng thông điệp thúc đẩy hành động tích cực vì trẻ em.
2. Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em (Điều 5)
Thời gian, thời lượng tổ chức Diễn đàn trẻ em phải phù
hợp với nội dung hoạt động Diễn đàn, không ảnh hưởng tới
sức khỏe và chương trình học tập của trẻ em trong nhà
trường.
3. Địa điểm, điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
(Điều 6)
a) Địa điểm tổ chức Diễn đàn trẻ em phải an toàn, thân
thiện với trẻ em và trong phạm vi đơn vị hành chính của cấp
tổ chức Diễn đàn.
22
b) Điều kiện vật chất tổ chức Diễn đàn trẻ em
- Phòng họp đáp ứng việc sắp xếp bàn ghế một cách linh
hoạt để trẻ tham gia các hoạt động thảo luận nhóm, trò chơi,
văn nghệ, đối thoại;
- Bảo đảm thiết bị âm thanh, ánh sáng;
- Băng rôn, thông điệp tuyên truyền, bảng tiêu đề về chủ
đề Diễn đàn;
- Văn phòng phẩm;
- Bảo đảm điều kiện ăn, uống, nghỉ ngơi, vệ sinh, sơ
cứu, vận chuyển cấp cứu, phòng chống cháy nổ.
4. Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 7)
Thành phần tham gia Diễn đàn trẻ em bao gồm trẻ em,
người phụ trách trẻ em, tình nguyện viên và khách mời tham
gia đối thoại.
Trẻ em tham gia Diễn đàn bao gồm trẻ em có nguyện
vọng tham gia, trẻ em được lựa chọn từ địa phương, cơ sở và
trẻ em được bầu chọn thông qua việc tham gia Diễn đàn trẻ
em các cấp.
Người phụ trách trẻ em: mỗi người chịu trách nhiệm
chăm sóc, hỗ trợ không quá năm trẻ em.
Tỉ lệ tình nguyện viên tham gia Diễn đàn trẻ em so với
trẻ em tham gia Diễn đàn không quá một phần mười.
Khách mời phiên gặp mặt đối thoại bao gồm đại diện
lãnh đạo cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia đối thoại.
Số lượng khách mời không vượt quá một phần ba tổng số trẻ
em tham gia Diễn đàn.
5. Lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em (Điều 8)
a) Tiêu chí lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn trẻ em:
- Từ đủ 9 tuổi đến dưới 16 tuổi;
- Tự nguyện đăng ký tham gia Diễn đàn (Mẫu phiếu
đăng ký ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
- Được đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp
23
(Mẫu phiếu ý kiến của cha, mẹ hoặc người đại diện hợp
pháp ban hành kèm theo Thông tư số 33/2014/TTBLĐTBXH);
- Bảo đảm sức khỏe tham gia Diễn đàn.
b) Cơ cấu trẻ em tham gia Diễn đàn phải bảo đảm đại
diện cho vùng, miền, dân tộc, độ tuổi, giới tính, tôn giáo, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt trong phạm vi địa phương, cơ
quan, đơn vị tổ chức.
c) Quy trình chọn, cử đại diện trẻ em tham gia Diễn đàn
trẻ em:
- Thông báo công khai chủ đề, nội dung Diễn đàn; tiêu
chí chọn, quy trình cử trẻ em tham gia Diễn đàn;
- Thực hiện việc lựa chọn trẻ em tham gia Diễn đàn từ
địa phương, cơ sở hoặc từ các Diễn đàn trẻ em cấp dưới
tham gia Diễn đàn trẻ em cấp trên;
- Hình thức bầu chọn tại Diễn đàn là đề cử, biểu quyết
hoặc bỏ phiếu.
6. Hoạt động chuẩn bị Diễn đàn trẻ em (Điều 9)
a) Chuẩn bị các văn bản, tài liệu:
Cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt
kế hoạch và thành lập Ban Tổ chức Diễn đàn; gửi công văn
đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách
nhiệm phối hợp tham gia tổ chức Diễn đàn; xây dựng nội
quy, tài liệu hướng dẫn trẻ em, người phụ trách, tình nguyện
viên, phóng viên tham gia Diễn đàn; xây dựng tài liệu truyền
thông, giới thiệu về Diễn đàn.
b) Trách nhiệm của trẻ em tham gia Diễn đàn:
- Tham gia chuẩn bị các kiến nghị, đề xuất xây dựng nội
dung và các thông điệp chính của Diễn đàn;
- Chuẩn bị các tiết mục văn nghệ, trò chơi phù hợp với
chủ đề, nội dung của Diễn đàn;
- Chuẩn bị các sản phẩm truyền thông, sản phẩm triển
lãm theo chủ đề, nội dung Diễn đàn (nếu có).
24
c) Trách nhiệm của Ban Tổ chức Diễn đàn, người phụ
trách trẻ em và tình nguyện viên:
- Cung cấp thông tin, tài liệu giúp trẻ em hiểu được chủ
đề, nội dung và các yêu cầu chuẩn bị Diễn đàn;
- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn, mong muốn của
trẻ em để hỗ trợ kịp thời;
- Hướng dẫn trẻ em các kỹ năng làm việc nhóm, thuyết
trình, lắng nghe, đặt câu hỏi ...
 






Các ý kiến mới nhất